Hiện Đang Truy Cập

We have 138 guests and no members online

07175762
Today
Yesterday
This Week
This Month
All days
13424
14760
65240
398224
7175762
21:55 _ 21-06-2018

ÂM DƯƠNG LỊCH. xem ngày giờ

World Time

 USA C.A Los Angeles

USA - TX - Houston 

Canada Toronto

 Germany Berlin

Việt Nam – Sài Gòn

Japan Tokyo

 

Australia - Sydney  

Weather in Sydney

Partly Cloudy

9°C

Sydney

Partly Cloudy

Humidity: 95%

Wind: 6.44 km/h

  • 21 Jun 2018

    Mostly Cloudy 16°C 7°C

  • 22 Jun 2018

    Sunny 17°C 5°C

Chuong Trinh Tu Hoc

Ý nghĩa lễ Phật Đản

Có những nước Á Châu như nước Xilanca, vào ngày Phật Đản không có ai bị đói bụng hết. Tại vì nhà nào cũng để mâm cơm ở trước cửa và bất cứ ai đói bụng cũng đều được mời ăn cơm đó. Trong ngày Phật Đản không có ai bị đói vì nhà nào cũng cúng dường cơm, chùa nào cũng cúng dường cơm. Đây là một truyền thống có từ mấy ngàn năm trước, từ thời Đức Thế Tôn.

Tại thành phố Huế ở Việt Nam, vào ngày Phật Đản không ai giết một con gà, một con vịt. Ngày đó tất cả mọi người đều ăn chay, khi ra chợ những người bán hàng cũng chỉ bán đồ chay thôi. Đó là một ngày không sát sinh.

Trong ngày Phật Đản và từ trước đó, nhiều người đã thả chim, thả cá tạo niềm vui và hiến dâng sự sống cho nhiều loài hữu tình. Đó là cách thực tập từ bi để báo ơn Bụt. Ngày này, chúng ta thực tập từ bi bằng nhiều cách: Không sát sinh mà lại phóng sinh, không trừng phạt mà lại tha thứ. Ngày Phật Đản là một cơ hội để cho các nhà cầm quyền có cơ hội phóng thích tù nhân.

Có một người sinh cách đây 2600 năm mà cách sống của người ấy vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội loài người, người đó phải có một nhân cách rất vĩ đại. Chính vì vậy cho nên chúng ta xưng tụng người đó là Đức Từ Bi.

Những người Phật tử sống ở châu Âu và châu Mỹ đã chấp nhận ngày Phật Đản là một ngày lễ của người Phật tử. Đối với người Phật tử thì không khó khăn gì để chấp nhận đức Kitô là một vị Bồ Tát. Vì vậy người Phật tử sẵn sàng để ăn Noel. Thay vì giết một con gà lôi (gà tây) để ăn Noel thì người Phật tử ở phương Tây lại ăn chay để khỏi phải sát sinh. Nếu người Phật tử cứ thực tập như vậy một hồi thì ở châu Âu và châu Mỹ người ta sẽ chuyển hướng, họ cũng sẽ không giết một con gà lôi mỗi khi ngày Giáng Sinh tới.  Ở Việt Nam, ngày này Phật tử làm lễ đài rất lớn, có những xe hoa được trang hoàng công phu. Nhưng phải làm sao để đừng bị tốn kém, đừng phung phí, vì thiểu dục vốn là một truyền của Phật giáo. So với lễ Noel thì lễ Phật Đản ít tốn kém hơn nhiều.

Nếu quý vị Phật tử ở các nước châu Âu, châu Mỹ mà làm  lễ Noel cho đàng hoàng theo tinh thần Phật Đản thì sẽ gieo được những hạt giống tốt. Các thân hữu Kitô sau này cũng sẽ chịu ảnh hưởng và sẽ tôn trọng sinh mạng của các loài cầm thú và cỏ cây. Chúng ta là những người con Bụt, đã quy y, tức là đã quay về nương tựa Bụt.

Nhưng từ nhỏ tới lớn chúng ta đã có nhiều quan niệm về Bụt khác nhau, cái quan niệm về Bụt của chúng ta cứ thay đổi hoài. Khi còn là một em bé, quan niệm về Bụt của chúng ta khác. Lớn lên, tìm hiểu, đọc sách về Bụt thì quan niệm của chúng ta về Ngài lại khác hơn. Theo năm tháng, ý niệm của chúng ta về Bụt ngày một thay đổi.

Nếu tu tập tinh tấn thì tới một ngày nào đó chúng ta có một ý niệm về Bụt rất gần với sự thật. Ví dụ mình tu hành sáu mươi năm, hay sáu mươi lăm năm thì mình có thể trải qua bẩy mươi hay tám mươi cái quan niệm về Bụt. Nhưng nhờ sự tu chứng, mình sẽ đi qua một cái ý niệm về Bụt sát với sự thật hơn. Nếu mình có một quan niệm về Bụt thì có thể quan niệm đó chưa gần với sự thật lắm đâu. Chúng ta phải sẵn sàng để buông bỏ cái ý niệm đó đi.

 

Trong cơ đốc giáo cũng như Phật giáo, người ta nghĩ đến đức Kitô hay đức Thích Ca với những tư liệu mà người ta có được trong Thánh Kinh và trong Kinh Bụt, rồi dựa vào những tư liệu đó mỗi người có một ý niệm về Chúa hay về Bụt cho riêng mình. Cái đó cũng đúng thôi, nếu chúng ta thực tập cho sâu sắc thì chúng ta biết rằng Bụt cũng vô thường mà Chúa cũng vô thường.

Vô thường đây không có nghĩa là sau khi chết không còn nữa, vô thường đây có nghĩa là sau khi chết thì vẫn tiếp tục, nhưng tiếp tục dưới hình thức khác. Cho nên đi tìm Chúa đi tìm Bụt là trách vụ của người tu học. Mà tìm Bụt ở đâu? Tìm Chúa ở đâu? Bụt và Chúa có phải là những thực tại nằm ngoài chúng ta không? Đó là vấn đề cần phải đặt ra.

Chúng ta có một hình ảnh về đức Thích Ca qua những tư liệu mà chúng ta thu nhập được từ kinh điển. Đó là hình ảnh một vị thái tử thành Ca Tỳ La Vệ, lớn lên trong nhung lụa, tới khi trưởng thành thì bỏ nhà đi xuất gia, tu khổ hạnh, sau đó thành đạo và đi thuyết pháp bốn mươi chín năm. Đó là hình ảnh về đức Thích Ca của chúng ta.

Khi tạc tượng hay vẽ hình thì chúng ta căn cứ trên dữ liệu đó. Ta phải biết rằng đó chỉ là hình ảnh đầu của đức Thích Ca mà thôi, sau khi ngài nhập diệt thì hình ảnh đó trở nên khác. Cho nên mình phải thực tập như thế nào để đừng bị dính mắc vào cái hình ảnh của Bụt mà mình đã tạo dựng ra từ những tư liệu mà mình đã sử dụng trong kinh điển.

Ban đầu thì đó là sự thật hết, chúng ta cần có một hình ảnh, và những hình ảnh đó mình tìm thấy được trong kinh điển. Chúng ta cần cái hình ảnh, nhưng nếu chúng ta bị vướng mắc vào cái hình ảnh đó và nghĩ rằng Bụt bây giờ cũng vẫn như xưa thì chúng ta sai lầm.

Nếu cứ tưởng rằng Bụt bây giờ vẫn giống như Bụt của hai ngàn sáu trăm năm trước. Rằng sau khi chết tướng của Ngài không thay đổi, Ngài vẫn đang ở đâu đó trên trời hay dưới biển thì chúng ta lầm to.

Chúng ta bị rơi vào một cái kiến chấp gọi là thường kiến. Còn nếu nói rằng: Sau khi chết Bụt không còn nữa thì đó là rơi vào đoạn kiến. Mà rơi vào đoạn kiến hay thường kiến thì cũng đều sai lầm cả.

Vậy thì chúng ta phải đi tìm Bụt như thế nào để thấy được Bụt, để tiếp xúc được với Bụt như là một thực tại mà không phải là một ý niệm. Nếu quý vị tới từ truyền thống Cơ Đốc Giáo thì quý vị cũng biết như vậy. Nếu mình đi tìm Bụt như thế nào thì mình cũng đi tìm Chúa như thế. Nếu mình kẹt vào ý niệm thường thì mình không tìm được Bụt được Chúa, mình kẹt vào ý niệm đoạn thì mình cũng không tìm thấy Chúa, thấy Bụt. Cái ý niệm đó nó giam hãm mình.

Trong cuốn Sám Pháp Địa Xúc, đoạn đầu chúng ta quán Bụt như một vị thái tử, có vợ, có con rồi đi xuất gia và thành đạo. Nhưng phần tiếp theo của cuốn sách, chúng ta đã đi khá hơn, chúng ta đã thấy được sự tiếp nối của Bụt sau khi thành đạo. Thấy được hình ảnh giáo đoàn của Ngài, và sau nữa thấy được hình ảnh của Bụt khi Ngài già yếu. Đó chính là một phương pháp hành trì gọi là quán Bụt. tức là nhìn sâu để thấy được Bụt.

 

Ban đầu thì mình có thể nương vào những hình ảnh của Bụt mà mình có được từ những tư liệu trong kinh điển. Nhưng sau đó mình phải đi xa hơn. Mình phải thấy cái hình ảnh ban đầu đó nó vô thường, và mình phải tìm thấy sự tiếp nối của Bụt một cách rõ ràng, chắc chắn mà đừng nương vào những tưởng tượng. Đọc kinh điển chúng ta thấy rất rõ Bụt là một con người mà không phải là một vị thần linh. Nếu chúng ta nghĩ Bụt là một vị thần linh không hề thay đổi thì chúng ta lạc vào tà kiến. Chúng ta biết rằng không phải khi hình hài của chúng ta tan rã thì chúng ta mới bắt đầu tiếp tục mà chúng ta tiếp tục ngay trong khi hình hài này còn nguyên vẹn chưa bị tan rã.

Tại Làng Mai chúng ta đã từng nghe nhiều lần câu nói: “trong từng giây phút của đời sống hằng ngày, chúng ta chế tác những tư duy, những ngôn ngữ, những hành động”. Không có giây phút nào mà chúng ta không chế tác những tư duy, những ngôn ngữ, những hành động. Những tư duy, ngôn ngữ hành động đó mang chữ ký của chúng ta, đó là ba nghiệp. Đó là sự nối tiếp rất đích thực, rất cụ thể của mỗi chúng ta.

Bụt cũng vậy, Bụt cũng có sự tiếp nối bằng những tư duy, ngôn ngữ và hành động của Ngài. Đọc trong kinh chúng ta thấy được những tư duy của Bụt. Những tư duy của Ngài được ghi chép lại, được diễn tả bằng một cái cách nào đó, một ngôn ngữ nào đó. Nếu chúng ta thông minh một chút, chúng ta không bị mắc kẹt thì chúng ta có thể tiếp xúc được với cái tư duy của Bụt. Những tư duy của Bụt được gọi là Chánh Tư Duy. Tức là những tư duy đi theo Chánh Kiến.

Chánh Kiến là tuệ giác về vô thường, vô ngã, tương tức, bất sinh bất diệt, vô khứ vô lai. Có những tư tưởng ghi chép trong kinh có thể chưa phản chiếu được cái tuệ giác thâm sâu đó (tuệ giác vô thường, vô ngã, vô khứ, vô lai, vô sinh bất diệt). Nhưng nó cũng có thể là những tư duy của Bụt tại vì tư duy cũng có nhiều cấp bậc. Có những người chưa thể đi sâu vào sự quán chiếu thì cần cái tư duy đơn giản hơn để bám víu vào mà đi tới. Ví dụ khi chúng ta niệm Bụt thì đức Thế Tôn là thầy của chúng ta. Là bậc đã qua tới một cách nhiệm mầu; là bậc đã hiểu thấu thế gian; là bậc nhân sĩ cao tột có khả năng điều phục con người; là bậc thầy của cả hai giới thiên và nhân; là bậc tỉnh thức toàn vẹn; là bậc đáng tôn sùng và quý trọng nhất trên đời. Đó là những quan niệm về Bụt. Đó là những đức tính của Bụt, là những danh hiệu mà người ta nói về Ngài.

Nhưng nếu ta quan niệm về Bụt như vậy thì Bụt trở thành một cái ngã, một thực tại nằm ngoài ta và ta phải cầu nguyện vì ta không có những cái đó. Như thế thì chúng ta chưa đi sâu lắm. Đó chưa phải là tư duy đi đôi với tuệ giác vô thường, vô ngã và tương tức.

Trong khi chúng ta chắp tay lại quán tưởng thì chúng ta nói rằng: “Bụt ơi! Con biết rằng Ngài và con là hai thực tại, nhưng không phải riêng biệt. Con thấy rõ ràng là Ngài có trong con và con cũng có trong Ngài. Tại vì Ngài và con đều có tính cách tương tức, cho nên sự cảm thông giữa con với Ngài trở thành sâu sắc.

Đó là một phép quán tưởng trước khi lạy để mình có thể tiếp xúc được với tự thân của Bụt chứ không phải với cái ý niệm về Bụt. “Năng lễ sở lễ tính không tịch” tức là chủ thể lạy (mình) và đối tượng lạy (Bụt) bản chất đều là không. Không tức là không có một cái ngã riêng biệt mà cái này có trong cái kia, cái kia có trong cái này. Bụt có trong ta và ta có trong Bụt. Lễ Bụt như vậy sẽ đánh tan được cái ý niệm Bụt là một thực tại riêng biệt nằm ngoài mình và mình phải đi cầu xin, tìm kiếm.

Các bạn theo truyền thống Cơ Đốc Giáo cũng có thể cầu nguyện với Chúa Giêsu như vậy. Nếu các bạn thấy Chúa như là một thực tại hoàn toàn khác biệt nằm bên ngoài mình thì các bạn không tiếp xúc được với thực tại hiện tiền. Hôm trước có một vị linh mục Công Giáo đặt câu hỏi như sau:

"Tại sao trong đạo Bụt không thiết lập một biểu tượng ở ngoài mình để cầu nguyện ?

Cầu nguyện như vậy mới có ý nghĩa chứ."

Vị linh mục ấy đã hỏi tôi như vậy. Ý ông ta là cầu nguyện thì phải có đối tượng. Cầu nguyện phải là cầu nguyện với ai. Tôi đã trả lời rằng: Mình có thể nói chuyện với em bé 5 tuổi ở trong mình hay không? Em bé 5 tuổi cũng là mình, em bé 5 tuổi bị thương rất nặng, nhưng vì mình bận rộn quá nên không có thời gian đoái hoài tới. Bây giờ mình đã biết quay trở về để nhận diện em bé 5 tuổi trong mình. Khi mình muốn nói chuyện với em bé thì liền nói chuyện được ngay chứ sao không. Em bé đó với mình là môt hay hai? Mình có thể so sánh bức ảnh của mình khi lên năm và một bức ảnh mới nhất của mình trong hiện tại và hỏi : em bé năm tuổi là tôi ấy với tôi đã trưởng thành là một hay là hai ?

Theo tuệ giác của đạo Bụt thì hai con người ấy không phải một cũng không phải hai. Em bé nhỏ xíu đó không giống mình bây giờ. Em bé đó với mình không phải là một (vì không giống nhau), nhưng mà cũng không phải là hai (vì mình là sự tiếp nối của em bé).

Mình có thể nói chuyện với em bé rằng: “Em bé ơi tôi biết là em bé đang còn đó, em bé đã từng bị thương tích, đã từng bị khổ đau, em bé cần tới tôi, em bé cần sự nuôi dưỡng và trị liệu. Nhưng mà tôi bận rộn quá, tôi ít có thì giờ trở về với em bé, nói chuyện với em bé." Đó là nói chuyện, đó là một sự cầu nguyện. Em bé đó không cần phải là một thực tại ngoài ta. Cho nên sự cầu nguyện là như vậy.

Khi cầu nguyện Bụt hay Chúa cũng vậy. Ta không hẳn phải có một đấng hoàn toàn ở ngoài ta thì mới cầu nguyện được. Vì vậy cho nên trong đạo Bụt mỗi khi mình chắp tay lạy Bụt thì phải cẩn thận. Đừng có coi Bụt là một vị thần linh có ở ngoài mình. Câu quán tưởng “năng lễ sỡ lễ tánh không tịch” rất là hay. Người lạy và người được lạy đều có tính cách tương tức, người này có trong người kia vì vậy cho nên sự cảm thông mới có thể có được và có một cách sâu sắc. Lạy Bụt như vậy không phải là một cái sự cầu xin, không phải là một quỵ lụy. Lạy Bụt như vậy là để tiếp xúc với Bụt, mà Bụt này không phải là một thực tại nằm ở ngoài mình, Bụt này cũng chính là mình.

Mỗi khi ta chế tác được một chánh tư duy, một tư tưởng mà biểu lộ được tuệ giác vô thường, vô ngã, từ bi, trí tuệ và tương tức thì ta là Bụt.

 

Khi ta chế tác một tư tưởng hận thù, kỳ thị, hay ganh tỵ thì ta không phải là Bụt. Khi ta nói ra được lời nói có yêu thương, có tha thứ, gây được niềm tin cho người thì ta là Bụt. Khi ta nói một câu dữ dằn, ác độc, chua cay thì ta không phải là Bụt. Tại vì Bụt cũng ở trong ta mà ma cũng ở trong ta.

Và sự thực tập là làm thế nào để ta có nhiều cơ hội chế tác ra chánh tư duy. Những tư duy có từ bi, có hiểu biết, có thương yêu mà không có kỳ thị, ganh tỵ ; Làm sao để mỗi giây phút ta nói ra được lời thương yêu ; làm sao để mỗi giây phút có được một hành động chăm sóc, bảo vệ thì mình là Bụt rồi, đi kiếm Bụt đâu nữa!

Cho nên tổ Lâm Tế mới nói: “Phật và Bồ Tát hả? Phật và Bồ Tát là ai? Là các vị đây chứ ai, các vị đang ngồi đây nghe pháp chứ ai”. Khi ta chế tác ra được một chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp tức là mình đã là Bụt rồi tại sao phải đi tìm đâu xa xôi. Vì vậy cho nên Bụt tại tâm là rất đúng.

Ta thấy rõ ràng là ta tìm thấy Bụt ngay trong tự tâm của mình, mà ta cũng tìm thấy Bụt ở trong tăng thân của mình. Tăng thân của mình là gì? Tăng thân là một đoàn thể đang thực tập để có thể chế tác được chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Tăng thân của ta có thể không hoàn hảo, nó còn có lên xuống, còn khổ đau, còn hờn giận…Nhưng tất cả mọi người trong tăng thân đều có ý chí muốn tu học.

Cho nên người nào tu giỏi thì có thể mỗi ngày chế tác ra được nhiều chánh tư duy, nhiều chánh ngữ và nhiều chánh nghiệp. Thì người ấy đang đại diện cho Bụt, đang tiếp nối Bụt, đang cống hiến chất Bụt cho tất cả những người khác trong tăng thân. Đó là Bụt.

Những người xuất sĩ nam hay xuất sĩ nữ, những người tại gia nam hay tại gia nữ. Người nào mà thực tập chánh niệm hay chánh định; người nào mà nhìn sâu để có một cái thấy biểu lộ được tính vô thường, vô ngã, tương tức, không kỳ thị và chế tác được những tư duy có chất từ, chất bi, chất hỷ, chất xả thì người đó là một sự tiếp nối của Bụt. Bụt không ở đâu xa, Bụt rất rõ ràng và cụ thể và mình có thể tiếp xúc với Bụt bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Mỗi khi có những khó khăn, những buồn khổ kéo tới thì mình nói: “Bụt ơi! Con biết Ngài có đó, con muốn tiếp xúc với Ngài để cho con khỏe nhẹ”.

Với phương pháp theo dõi hơi thở và bước chân, ta ôm ấp được những nỗi khổ niềm đau của chính mình. Bụt cũng vậy, khi nào có những nỗi khổ niềm đau thì Ngài biết trở về với hơi thở. Và hơi thở đó giúp cho Bụt ôm ấp và lìa bỏ được những nỗi khổ niềm đau của mình.

Quý vị cũng vậy, mỗi khi quý vị có một sự bất an trong lòng, có một chướng ngại làm cho mình không có hạnh phúc thì cách hay nhất là trở về hơi thở. Hơi thở giúp mình chạm được vào nỗi khổ niềm đau, chạm được vào cái cảm giác bất an, mông lung của mình để ôm ấp và chuyển hóa. Không những mình tiếp xúc được bằng hơi thở mà mình còn có thể tiếp xúc được bằng bước chân. Rất là hay.

Bụt cũng có thể có những khó khăn, khó khăn của Bụt cũng có thể đến từ bên trong hoặc từ bên ngoài. Nhưng mỗi khi có khó khăn tới thì Bụt biết tiếp xúc với những khó khăn ấy và mỉm cười với chúng rồi tìm cách chuyển hóa chúng.

Nếu khi những khổ đau tìm tới với ta mà ta biết sử dụng hơi thở và bước chân để chạm vào và xoa dịu những khổ đau ấy thì ta cũng đang là một vị Bụt. Còn nếu khổ đau tới với ta mà ta không biết thực tập thì ta không phải là Bụt. Bụt có mặt 24 giờ đồng hồ trong một ngày. Thế nên trong ngày lễ Phật Đản, chúng ta có cơ hội quán chiếu để thấy rằng có thể tiếp xúc với Bụt một cách rất cụ thể. Tôi nghĩ rằng nếu thấy được Bụt như vậy rồi thì Bụt không còn là một cái gì mơ hồ nữa, không còn là một đấng thần linh ở trên mây nữa.

Chúng ta là đệ tử của thiền sư Lâm Tế thì chúng ta phải nhớ lời này: “Phật và Bồ Tát hả? Phật và Bồ Tát là ai? Là các vị đây chứ ai, các vị đang ngồi đây nghe pháp chứ ai”. Mỗi chúng ta đều có khả năng ôm ấp niềm đau, chuyển hóa niềm đau của mình và giúp cho người khác ôm ấp niềm đau, chuyển hóa niềm đau của họ. Chúng ta đang làm công việc của Bụt, chúng ta đang là sự tiếp nối của Bụt. Mỗi chúng ta đều có khả năng chế tác ra những tư duy lành, những ngôn ngữ lành và những hành động lành đó là chúng ta đang nối tiếp sự nghiệp của Bụt – sự nghiệp thương yêu, sự nghiệp hiểu biết, sự nghiệp từ bi. Ai trong chúng ta cũng có thể làm được điều đó.

Thông thường, Bụt ở đâu thì quốc độ của Ngài ở đó. Ngài đi tới đâu cũng mang theo quốc độ của mình. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng là Bụt, chúng ta là sự tiếp nối của Ngài nên chúng ta cũng phải có cõi Bụt quanh mình. Ví dụ ta ngồi nhìn ra cửa sổ thấy mùa xuân vẫn còn đang phơi phới, cỏ cây xanh mướt, hoa đua nhau khoe sắc thắm, ta thấy những thứ đó rất mầu nhiệm.

Tiếp xúc được với những màu nhiệm đó thì ta thấy cuộc đời này đẹp đẽ quá. Ta có thể ngồi trên một góc cỏ nhìn ngắm mọi thứ trong tâm trạng không có đau buồn. Ta ngắm một cái lá sen, ngắm một cái lá tre trong bình an thì lúc đó ta là Bụt. Nếu bị giam hãm trong những cơn buồn giận, ta không tiếp xúc được với những  mầu nhiệm của thiên nhiên thì ta không phải là Bụt, ta đang không có cõi Bụt bao quanh.

Bụt ở đâu thì cõi Bụt ở đó. Khi ta có an lạc, hạnh phúc thì quang cảnh xung quanh cũng có an lạc, hạnh phúc. Khi một sư anh, sư chị hay sư em không dễ thương mà mình ôm được cái không dễ thương đó, mình nhìn sư anh, sư chị, sư em của mình với con mắt từ bi thì mình là Bụt và sư anh, sư chị, sư em ấy là cõi Bụt của mình.

Nhìn bằng con mắt từ bi thì mình khỏe và cõi của mình trở thành cõi tịnh độ. Nhìn bằng con mắt đau buồn trách móc thì mình không phải là Bụt và cõi xung quanh của mình không phải là cõi Bụt. Đó là sự thực tập của chúng ta. Một tăng thân được thiết lập ra là để tiếp nối Bụt.

Một người thực tập cũng là sự tiếp nối của Bụt. Nhưng nếu được sống trong tăng thân, được cùng tăng thân thực tập thì chúng ta sẽ được che chở, được yểm trợ nhiều hơn. Vì vậy tu tập mà có tăng thân thì dễ dàng hơn rất nhiều. Nương vào anh, vào chị, vào em, và vào những người bạn đồng tu để mỗi giây phút mình có thể chế tác được chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Khi chế tác ra được ba cái đó thì trong người mình có Bụt và xung quanh mình là cõi Bụt. Còn khi chế tác ra những chất liệu ngược lại thì trong người mình không có Bụt và xung quanh mình cũng không có cõi Bụt.

 

Chúng ta có thể đã từng nghĩ rằng các chương trình sinh hoạt tại Làng Mai khá dày đặc: Buổi sáng phải thức dậy sớm đi ngồi thiền, phải ăn sáng, làm việc, đi thiền hành, ăn trưa, rồi đi theo các lớp học, rồi ăn chiều, rồi lại ngồi thiền tụng kinh vào buổi tối. Vừa kết thúc khóa tu hai mươi mốt ngày đã sang  khóa tu mùa hè, rồi đi Ý, đi Đức, đi Đông Nam Á… Giống như không có thì giờ để chơi. Chúng ta có cảm tưởng như là chúng ta bị một sức ép phải đi theo. Chúng ta cảm thấy chúng ta không có đủ không gian. Khi chúng ta cảm thấy mình bị ép theo thời khóa, chúng ta cảm thấy mình thiếu không gian, thì trong chúng ta lúc ấy không có Bụt, không có tăng thân và hoàn cảnh xung quanh ta cũng không phải là cõi Bụt.

Ở đời có những người rất thích hát. Họ không có phải là người tu nhưng buổi sáng thức dậy họ muốn hát một bài. Trong khi xả nước tắm, họ vừa tắm vừa hát. Nhưng có những người khác khi thức dậy không hát được, lúc tắm họ cũng không hát được, tại vì họ bị kéo đi bởi hàng trăm thứ lo toan, dự tính trong lòng. Thường thì đó đều là những lo toan không đáng có như tại sao mình cứ phải dậy sớm đi làm? Không biết hôm nay ở công ty ra sao? Chết rồi, tí nữa phải nhớ đi đổ xăng v.v…

Cùng thức dậy vào buổi sáng nhưng hai người này khác nhau: một người thì có niềm vui trong lòng do biết an trú, một người thì không có niềm vui do bị những lo toan kéo đi. Khi ta có niềm vui trong lòng thì thế giới xung quanh trở thành cõi Bụt. Khi có phiền não trong lòng thì thế giới xung quanh trở thành cõi Ta Bà.

Trong tu viện, mỗi sáng ta đều thức dậy đi ngồi thiền. Ngồi thiền làm cái gì? Ngồi thiền tức là khỏi làm gì hết, lúc ấy không có ai sai mình phải làm cái này hay làm cái kia. Chỉ ngồi yên thôi thì sướng biết bao nhiêu.

Thử hỏi trên thế gian này có biết bao nhiêu người thức dậy được ngồi yên trong vòng nửa giờ hay một giờ? Được ngồi thiền rất yên vào buổi sáng giống như có tiếng hát trong lòng và ngồi thiền không phải là một cái áp lệnh nữa, mà là một niềm vui.

Khi ngồi thiền mình có thể tiếp xúc được với Thầy, với sư anh, sư chị hoặc sư em đang ngồi chung với mình và mình được nuôi dưỡng. Cũng như có người khi thức dậy mở cửa sổ ra là có thể hát được. Ta cũng vậy.

 

Khi thức dậy ta thấy được ngồi thiền, được đi thiền hành là một niềm vui. Ngồi thiền và đi thiền hành đó không phải là công việc, không phải là một áp lực, không phải là lao tác cực nhọc  mà mình phải trả nợ như là một người công dân.

Ở bên ngoài đa phần mọi người đều rất bận rộn không có cả thời gian để ngồi yên, trong khi đó tại tu viện, mỗi ngày chúng ta đều được ngồi yên không phải làm gì cả, đó là những cơ hội rất quý. Thế nhưng có lúc ta lại cảm thấy đó là một sự lao tác mệt nhọc, cảm thấy bị ép buộc.

Khi ngồi thiền hay đi thiền hành mà ta biết cách an trú trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở thì ta có an lạc, thảnh thơi. Lúc ấy ngồi thiền như là ngồi chơi, đi thiền hành như là đi chơi và xung quanh ta là cõi Bụt. Còn khi ngồi thiền hay đi thiền hành với tâm trạng bị ép uổng thì rất tội nghiệp và rất uổng.

Trong cùng một khung cảnh nhưng có người thì thảnh thơi, thư thái, có người lại cảm thấy gò bó, cảm thấy không có không gian, không có thời gian để sống cho mình. Có những người thấy rất hạnh phúc được ngồi thiền, được đi thiền hành, được nấu cơm cho đại chúng, được tổ chức và hướng dẫn khóa tu v.v...

Trong khi đó lại có những người cảm thấy phải ngồi thiền, phải đi thiền hành, phải tổ chức khóa tu. Đối với những người ấy thì ngồi thiền, thiền hành không phải để sống cho mình, quét nhà, làm vườn không phải để sống cho mình. Cho nên tất cả là tùy theo cách mình nhìn.

Cũng giống như ở ngoài, có nhưng người họ rất thích đi làm vì họ yêu nghề. Lại có những người rất ngao ngán khi thức dậy thấy có một ngày làm việc trước mặt.

Thiền Sư Lâm Tế có nói với chúng ta rằng:

Quý vị đừng có tưởng tượng quá, đừng có nghĩ rằng cung trời Đâu Suất và đức Di Lặc ở trên mây. Quý vị đừng đi tìm báo thân, pháp thân, ứng thân và cũng đừng đi tìm Tịnh Độ, mất thời gian lắm. Quý vị chính là Bụt là Bồ Tát đó, nếu quý vị nhận ra được đời sống là những cái nhiệm mầu”.

Có sáu đạo thần quang tức là sáu thức khiến cho mình có thể tiếp xúc được với tất cả những cái mầu nhiệm đó. Cung trời Đâu Suất của đức Bụt Di Lặc, hay cõi Tịnh Độ hay tam giới có mặt hiện tiền để mình có thể tiếp xúc liền ngay được. Tam giới là tam giới của mình chứ đâu nữa? Người ta lặp đi lặp lại một cách máy móc câu:

Tôi tu học để mau thoát khỏi tam giới”.

Tổ Lâm Tế nói: Đừng nói rằng quý vị đi tu là để thoát khỏi tam giới (cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc). Thoát khỏi tam giới thì quý vị đi đâu. Ở ngay trong tam giới này đã có đủ Bụt, Pháp, Tăng, có Tịnh Độ, cõi Bụt, có đủ hết”.

Khi tâm mình có ham muốn thì tức là mình đang ở trong cõi dục. Khi tâm có từ bi, hiểu biết thì mình đang ở trong cõi bồ tát, cõi Bụt. Chúng ta đã có cơ hội được nghe những lời giảng, những lời khai thị rất nhiệm mầu của chư Tổ. Và chúng ta có cơ hội để được sống thật sâu sắc những giây phút của đời sống hằng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể tiếp nối sự nghiệp của chư Bụt. Chư Bụt rất gần chúng ta để được tiếp nối một cách đẹp đẽ.

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh

NGH THUT ĐIU KHIN

MỘT BUỔI LỄ TRONG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

I.- TÍNH CHẤT MỘT BUỔI LỄ TRONG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

Gia Đình Phật Tử là một tổ chức giáo dục Thanh Thiếu Nhi theo tinh thần Phật giáo, vì thế một buổi lễ trong Gia Đình Phật Tử phải biểu hiện hai tính chất :

• Tính chất giáo dục Thanh thiếu nhi : Trẻ - Khoẻ - Mạnh

• Tính chất tín ngưỡng đặc thù của Đạo Phật : Thanh tịnh - Thiền vị.

Vì vậy mà nghệ thuật điều khiển một buổi lễ trong Gia đình Phật tử có một sắc thái tinh thần khác hẳn với những tổ chức khác ngồi xã hội. Bởi nó có những đặc tính riêng, phương PHÁP riêng và tinh thần giáo dục riêng của tổ chức Gia Đỉnh Phật Tử Việt nam.

Nghệ thuật điều khiển một buổi lễ trong GĐPT là những phương thức nhất định biểu thị qua tính chất sinh hoạt của tổ chức, qua phong cách của người điều khiển, tự nó nói lên tính chất sinh động, tươi trẻ, nhanh gọn được thu nhặt kinh nghiệm qua sức sống của tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt nam. Phương thức nầy bao gồm những phương thức tập họp, những tín hiệu, những khẩu lệnh, những thao tác, những biểu thị mệnh lệnh được truyền đạt cho Đoàn sinh thay vì dùng ngôn ngữ .

Gia Đình Phật Tử là một tổ chức đã có nề nếp, kỷ cương, một phong cách sinh hoạt sống động đã được tôi luyện trong quá trình lịch sử, trong thực tiển xã hội nên công việc cũng nhờ quá trình ấy để có thể đúc kết lại thành một nghệ thuật đặc thù.Tuy nhiên, nghệ thuật ấy cũng phải được ấn định theo những nguyên tắc thống nhất trong Gia Đình Phật Tử Việt Nam để tất cả các đơn vị Gia Đình cô sở

vận dụng .Nếu thiếu những nguyên tắc nầy tự nó sẽ trở thành ô hợp, vô ý chí và thiếu kỷ cương, thiếu tính truyền thống.

Chúng ta có thể tập hợp những quy tắc nghệ thuật ấy để hoàn chỉnh theo những quy phạm căn bản sau đây .

II.- NGHỆ THUẬT ĐIỀU KHIỂN :

A.- Tính chất giáo dục Thanh thiếu nhi có thể tóm lược ba tính chất cần có sau: NHANH - GỌN - KHOẺ

a.- Về phía Đoàn sinh :

1.- Nguyên tắc tập họp : Theo tín hiệu, thao tác, cử chỉ, còi hiệu, khẩu lệnh (HT đã được rèn luyện trong Trại Sơ cấp Lộc Uyển).

Hình thức đội hình : Mổi đội hình đều có vị trí ấn định cho người điều khiển, trong nghệ thuật điều khiển hình thức đội hình là yếu tố quan trọng, làm sao cho người điều khiển có thể quán xuyến được tất cả để có thể dùng những tín hiệu, thao tác điều khiển được theo ý muốn mà không cần truyền đạt bằng khẩu lệnh.777

Kỷ luật đội hình : Kỷ luật, kỹ thuật đội hình phải được đặc biệt chú trọng, đặc biệt vị trí Đoàn sinh trong đội hình phải được ấn định theo thứ tự, không được tùy tiện thay đổi.

- ở tư thế nghỉ : Có hai thao tác có thể vận dụng tùy theo trường hợp cả nam lẫn nữ.

 

NG DNG TINH THN GIÁO DC GĐPT TRONG CÁC

BỘ MÔN SINH HOẠT

(Tổ chức dưới hình thức hội thảo. HT cần ôn kỹ lại bài “Tinh thần giáo dục GĐPT” ở Bậc Kiên)

Giảng viên chủ tọa có trong tay bài Tinh thần Giáo dục Gia Đình Phật Tử và bài ứng dụng Phật PHÁP vào sinh hoạt Gia Đình Phật Tử . Phải nghiên cứu kỹ trước

I. NHẮC LẠI : TINH THẦN GIÁO DỤC GĐPT

Phần này mời Huynh Trưởng Học viên phát biểu, rồi chủ tọa đúc kết lại

- Tinh thần giáo dục Gia Đình Phật Tử là Bi - Trí – Dũng. Tinh thần này đã được nêu lên làm châm ngôn của Gia Đình Phật Tử.

Trong quá khứ Gia Đình Phật Tử đã thể hiện tinh thần này như thế nào ?

(Dành cho Huynh Trưởng Học viên phát biểu. Ngoài những điều đã nêu trong bài ở Bậc Kiên,

Huynh Trưởng có thể nêu thêm những thực tế của tỉnh nhà).

- Chủ tọa tóm thâu ý kiến và đọc lại phần này trong bài Tinh thần Giáo dục

Gia Đình Phật Tử ở Bậc Kiên trang 70, 71, 72 (Không đọc phần kết luận của bài)

Tinh thần giáo dục mới cuả thế giới hiện nay yêu cầu đào tạo con người toàn diện là phải mang tính chất nhân bản, dân tộc, khai phóng thì trong tinh thần Bi - Trí - Dũng đã có những tính chất ấy chưa ? (Huynh Trưởng thảo luận)

- Chủ tọa đúc kết (Dựa vào phần 1 trang 166, 167 và đoạn đầu phần 3b trang 169)

II. ÁP DỤNG TINH THẦN NÀY VÀO CÁC BỘ MÔN SINH HOẠT GĐPT NHƯ THẾ NÀO

Các bộ môn sinh hoạt Gia Đình Phật Tử gồm có văn nghệ (các bài hát lúc

sinh hoạt). Trò chơi và Hoạt Động Thanh Niên. Chúng ta trình tự đi từng bộ môn một

1. Trước hết chúng ta nói đến văn nghệ:

* Dành cho HT thảo luận:

Trong khi thảo luận chủ tọa có thể góp ý

- Tất cả những bộ môn sinh hoạt đều phục vụ cho Mục đích của Gia Đình Phật Tử, đều phù hợp với tinh thần Gia Đình Phật Tử (Bi - Trí – Dũng) trong Bi - Trí

- Dũng đã có nhân bản, có dân tộc, có khai phóng.

Vậy thì chúng ta làm sao qua Văn Nghệ có thể giáo dục được tinh thần đó.

Ngoài ra còn giáo dục được tình thương.

* Sau khi thảo luận chủ tọa đúc kết và bổ sung thêm

- Về mặt nhân bản: phải khôi phục lại sanh phận con người, giá trò con người. Trong Gia Đình Phật Tử loại bài hát này không thiếu (Trai áo lam, Xây dựng gia đình …). Chúng ta cần sưu tầm ghi lại đúng lời, đúng nhạc. Nhiều đơn vị hiện nay hát bất chấp nguyên bản, hát sai nhạc , có thể vì khả năng nhạc lý căn bản các Huynh Trưởng chưa có, nhưng nhiều đoạn các em của chúng ta hát không đúng lời của nguyên tác. Những nhạc sĩ sáng tác những bản nhạc này hầu hết là những Huynh Trưởng kỳ cựu, thâm Nhập nhiều tinh thần của Gia Đình Phật Tử, nhiều khi ta chỉ đổi lời đôi chút (hoặc vô tình hát sai lời) là đã đi ra ngoài ý nghĩa mà tác giả muốn có trong tác phẩm của mình. Tuyệt đối không đưa những bài hát có tính chất ủy mị vào.

- Về mặt dân tộc: bản nhạc phải mang tính dân tộc, không thể sử dụng những điệu nhạc lai căn, mất gốc (chắc chắn không có trong sinh hoạt Gia Đình Phật Tử), nhưng ngoài xã hội nhan nhãn mà lại hôp thị hiếu thanh niên. Ngay các em đoàn sinh của mình lúc ở nhà, những lúc ngoài không, trống trải cũng “cha, cha, cha, tang tính …” hoặc “ten, ten, ten, ứ !”. Tại sao những bản nhạc Gia Đình Phật Tử chưa thâm Nhập vào tiềm thức các em bằng những điệu nhạc đó ? Chỉ khi nào lúc ngồi không ở nhà, lúc lao động trên nương rẫy cũng “Hị dô ta đây bao lòng trai hăng …” thay cho “Cha, cha…” thì việc áp dụng tinh thần giáo dục Gia Đình Phật Tử vào bộ môn Văn Nghệ của anh chị Trưởng mới gọi là thành công.

- Về mặt khai phóng: phải giữ gìn những tinh hoa của dân tộc bằng cách tiếp nhận có chọn lọc những thành quả tiến bộ của thế giới mới.

- Đúng vậy, các HT Phật tử nhạc sĩ đã nắm được điều này nên những bản nhạc sinh hoạt GĐPT đến nay vẫn có những âm hợp với nhạc lý Tây phương, nhưng vẫn cấu trúc trong giai điệu hồn toàn Việt Nam. Trừ một vài bản vẫn chưa đạt yêu cầu nhưng không sao, chưa có ảnh hưởng gì.Ngay bài “Kính mừng Phật Đản” của Đoàn Đoàng ấu Phật Học ngày xưa, theo điệu đăng đàn cung “Vui mừng gặp ngày nay mồng tám tháng tư, là Khánh tiết Phật Thích Ca ngài…” nay cũng được một nhạc sĩ Phật giáo soạn lại rất hay tuy có mới mà điệu nhạc dân tộc vẫn duy trì (điều này chỉ nói thêm cho rõ chứ bản nhạc này bây giờ không nằm trong loại nhạc sinh hoạt)

- Ngoài ra qua bài hát, giáo dục cho các em tình yêu thương quê hương, thương người, thương lồi vật. Những bản nhạc cần có tính cách hùng mạnh (nhạc sinh hoạt Gia Đình Phật Tử hầu hết đều có tính chất này) Như vậy, song song với việc sưu tầm những bản nhạc sinh hoạt Gia Đình Phật Tử mới để làm mới mẻ thêm, tươi mát thêm, ta phải cho các em hát đi hát lại những bài hát đã từng hát trước đây để các em không những thuộc làu mà còn đi vào tiềm thức của các em. Chúng ta đừng sợ nhàm chán. Một băng nhạc ủy mị réo rắt trong các quán cà phê, ngày nào cũng nhai đi nhai lại thế mà chán gì, thanh

niên sáng nào cũng ung dung ngoài thưởng thức với những ly cà phê. Cái tốt nhàm chán, còn cái xấu không nhàm chán à ? Có nhiều đơn vị chỉ mãi miết sưu tầm cho được những bài hát mới để tập cho các em hàng tuần, trong khi đó những bài hát cũ lâu lắm không hề hát nên các em đã quên đi hay hát sai điệu rất nhiều.

Lại nữa có nhiều Huynh Trưởng muốn cho mới mẻ trong buổi sinh hoạt nên đưa vào những bài hát của đoàn thể khác ngoài Gia Đình Phật Tử, nhưng những bài hát này làm sao có được đầy đủ những yêu cầu đúng tinh thần giáo dục của Gia Đình Phật Tử.

Vẫn biết những anh chị này chọn những bài hát rất lành mạnh, nhưng đây chỉ là “vạn bất đắc dó” không tìm được những bản nhạc sinh hoạt Gia Đình Phật Tử khác.

2. Tiếp đến nói về trò chơi (hướng thảo luận như trên) Trò chơi phải lựa chọn để qua trò chơi giáo dục cho các em tinh thần Bi - Trí

- Dũng vậy ta phải lựa chọn như thế nào ?

Trò chơi của Gia Đình Phật Tử chưa phải là dồi dào lắm nên còn phải đưa vào nhiều trò chơi của những đoàn thể khác để luôn luôn có những trò chơi mới lạ.

Lúc nào cũng dùng đi dùng lại mấy trò chơi thôi thì các em cũng chán thật. Chúng ta cũng phải biết lựa chọn là dó nhiên, nhưng lựa chọn rồi, vẫn để nguyên xi như vậy có được không ? (Một vài trò chơi có thể giữ nguyên nhưng đa số phải thay đổi cho phù hợp với tinh thần giáo dục của Gia Đình Phật Tử)

Sau khi thảo luận đưa đến vấn đề là phải Phật hóa trò chơi.Chủ tọa dựa vào vấn đề Phật hóa trò chơi “ứng dụng Phật PHÁP vào sinh hoạt của Gia Đình Phật Tử” chương trình Lộc Uyển để hướng Dẫn thảo luận.

3. Hoạt Động Thanh Niên:

Về Hoạt Động Thanh Niên, phải làm thế nào để ứng dụng được tinh thần Bi

- Trí - Dũng vào trong đó ? (Huynh Trưởng thảo luận) Khi đúc kết chủ tọa hồn chỉnh thêm

Môn Hoạt Động Thanh Niên cần diễn ra trong khung cảnh thiên nhiên đưa các em vào thực tế. Bất kỳ một cái gút nào, hay một dấu đi đường, một bản Morse là phải hiểu cho được cái lợi ích thiết thực của cái gút ấy, của bản Morse ấy … để các em thấy được “Học là để cứu mình và cứu người” vừa giáo dục được tinh thần từ bi, vừa giáo dục được tinh thần quả cảm. Nên người Huynh Trưởng khi dạy môn này phải khéo léo và biết cách làm sống động buổi Học. Giờ Hoạt Động Thanh Niên mà chỉ truyền đạt một cách thụ động hoặc chưa làm nổi bật lợi ích của bài

Học là chưa vận dụng được tinh thần giáo dục của Gia Đình Phật Tử.

Cái tinh thần giáo dục Gia Đình Phật Tử mà chúng ta đã Học ở Bậc Kiên không những chỉ Học để biết mà biết để ứng dụng. Nếu không ứng dụng được tinh thần giáo dục ấy vào các bộ môn sinh hoạt thì chẳng còn gì là tinh thần giáo dục Gia Đình Phật Tử./-

LCH S TRUYN BÁ PHT GIÁO THI LÝ,

TRẦN THUỘC MINH VÀ TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH

Nói đến lịch sử Phật Giáo là phải nói đến lịch sử dựng nước và giữ nước của Dân tộc vì suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam không ai có thể chối cải được sự hòa quyện giữa Phật giáo với Dân tộc Việt Nam như nước với sữa. Hay nói một cách trang trọng và chắc thật hôn là: "Dân tộc còn thì Đạo PHÁP còn - Dân tộc mất thì Đạo PHÁP mất".

Trong Bậc Kiên chúng ta đã được Học quá trình du Nhập, phát triễn và tồn tại của lịch sử Phật Giáo Việt Nam từ thời Du Nhập đến triều đại Đinh - Lê. Giờ đây chúng ta lại tiếp tục tìm hiểu về giai đoạn các Triều đại tiếp theo của Dân tộc Việt Nam.

I. Phật GIÁO ĐờI NHÀ LÝ ( 1010 – 1225):

Lý Công Uẩn con nuôi của nhà sư Chùa Cổ Tháp là Lý Khánh Vân , thọ giới với Ngài Vạn Hạnh Thiền sư được vận động đưa lên làm vua lập lên cô nghiệp nhà Lý . Lý Công Uẩn lên ngơi hiệu là Lý Thái Tổ mộtø vị vua có cội nguồn từ Phật giáo nên khi lên ngơi hết lòng lo cho dân cho nước , biết lấy Đức trị dân nên Triều đại nhà Lý nước nhà rất an lạc . Lý Thánh Tôn đã từng tâm sự với quân thần “trẩm thương dân như thương con trẩm” triều đại nhà Lý có Quốc sư Vạnh Hạnh cố vấn , nước ta một thời hùng mạnh , không những đẩy lùi 30 vạn quân Tống trên Sông Như Nguyệt mà còn ngoại giao lấy lại Châu Quảng Nguyên và sau đó vẫn giao hảo với nhà Tống .

Phật giáo đời Lý thật là thời kỳ cực mạnh . Ngay thời Lý Thái Tổ đã xây dựng 8 ngơi chùa lớn : Hưng Thiên Ngự, Vạn Quế, Thăng Nghiêm , Thiên Vương , Cẩm Y, Thanh Thọ, Thiên Quang và Thiên Đức. Trùng tu các chùa khắp các làng xã . Hổ trợ cho các Tăng sĩ giảng đạo khắp nôi . Sai sứ sang Trung quốc thỉnh Kinh. Ngài còn dựng thêm Chùa Chân Giáo ngay trong nội thành thỉnh các Tăng sĩ đến đó giảng đạo cho nhà vua , hồng tộc và các quan thường được nghe.

Đời Lý Thái Tôn dựng Chùa Diên Hựu ( Chùa Một Cột) kiến trúc rất đặc biệt . Đời Lý Thánh Tôn xây Tháp Bảo Thiên cao 12 tầng, cao 20 trượng và một qủa chuông ( ở Huyện Thọ Xương ) nặng 12.000 cân . Nhà Lý làm vua được 9 đời , cả thảy được 216 Năm , các vị vua kế nghiệp Thái Tổ cũng nhân từ Đức độ sùng mộ đạo Phật , hết mình chăm lo việc nước , nước nhà thật là thái bình thịnh vượng .nhưng đến đời Lý Cao Tôn , nhà vua qúa nhỏ , lên ngơi mới có 3 tuổi , Tô Hiến Thành làm phụ chính . Vị vua cuối cùng là Lý Huệ Tôn , lúc này nhà Lý suy vong , trong triều thì nội loạn , ngoài dân chúng không được yên ổn. Năm 1224 Huệ Tôn truyền ngơi cho con gái Lý Chiêu Hồng rồi xuất gia ở Chùa Chân Giáo . Sau Lý

Chiêu Hồng truyền ngơi cho chồng là Trần Cảnh . Thế là sự nghiệp nhà Lý chấm dứt. Suốt các triều đại nhà Lý , từ Lý Thái Tôn đến Lý Anh Tôn , các vua đều có các Tăng Thống cố vấn . Ngoài các ngơi chùa xây dựng trong đời Thái Tổ , Thái Tôn, Thánh Tôn các vị vua về sau tiếp tục xây chùa đúc chuông , tất cả đến 200 ngơi chùa , các Tăng sĩ truyền bá giáo lý sâu rộng vào quần chúng , dân chúng đều sống an lành trong đạo Đức nhân nghĩa , các vị vua cũng dựa vào giáo lý đạo Phật để trị quốc , tích cực xây dựng Đạo PHÁP . Các Tăng Thống không những uyên thâm Phật PHÁP mà còn là những nhà bác Học lúc bấy giờ .

Vạn Hạnh Thiền sư Học đạo với Thiền ông Đạo Giả (đời thứ hai của phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi ) Ngài rất thông minh , ứng xử rất mau lẹ , không những chỉ giúp nhà vua hiểu thấu giáo lý mà còn giúp nhà vua kể cả về chính trị lẫn quân sự). Ngoài Vạn Hạnh Thiền sư còn có các Thiền sư danh tiếng như Đa Bảo

Thiền sư ( đệ tử Ngài Khuông Việt, Huệ Sinh Thiền sư Học đạo với Ngài Định Huệ Thiền sư , Định Hương Trưởng lảo , Thuyền Lão Thiền sư ( cả hai là đệ tử Đa Bảo Thiền sư ) , Viên Chiếu Thiền sư ( đệ tử Ngài Định Hương ) , Ngơ ấn Thiền sư ( đệ tử của một vị Sư người Chiêm Thành ).

Ngoài ra trong thời Lý Thánh Tôn lại còn có Thảo Đường Thiền sư người Tàu , đệ tử Ngài Tuyết Đậu Thiền sư bên Tàu rất giỏi văn chương và thông luận Phật PHÁP , Lý Thánh Tôn phong làm Quốc sư và cho khai giảng lớp giáo lý tại Chùa Khai Quốc trong thành Thăng Long , thu Thập đệ tử rất đơng , Lý Thánh Tôn cũng thọ giáo với Ngài . Ngài lập ra phái Thiền thứ 3 tại Việt Nam gọi là Phái Thảo

Đường . Hai trăm Năm Phật giáo cực thịnh nước nhà hùng mạnh , thái bình , văn hóa phát triển .nhưng vào cuối đời Lý thì Phật giáo bị đình đốn .

II. Phật GIÁO ĐờI NHÀ TRầN ( 1225 – 1400) :

Trần Cảnh lên làm vua mới có 8 tuổi niên hiệu là Thái Tôn. Vì vua còn nhỏ nên việc triều chính trong tay Thái sư Trần Thủ Độ. Năm Kiến Trung thứ 7 ( 1231)

vua Thái Tôn sắc cho nhân dân vẽ hình Phật để thờ ( thật ra do quyết định của Trần Thủ Độ để che mắt thiên hạ , chứ Thủ Độ thường làm việc trái với đạo lý , bức tử vua Lý Huệ Tôn ở Chùa Chân Giáo để về kết hôn với người chị họ nguyên là vợ của Lý Huệ Tôn). Năm 1237 , vua bỏ ngơi báu vào tu ở núi Yên Tử sau do sự BỨC ép của Thủ Độ vua phải bỏ triều . Khi về Yên tử Thái Tôn Học đạo với Phù Vân Quốc sư , lớn lên Thái Tôn rất thông hiểu đạo Phật, Ngài làm hai bộ sách : “Thiền Tồn Chỉ Nam”và “Khóa Hư” rất có giá trị. Kế nghiệp Trần Thái Tôn là Trần Thánh Tôn.

Trần Thánh Tôn vừa sùng đạo Phật lại vừa mở mang nho Học. Kế tục Trần Thánh Tôn là Trần Nhân Tôn. Hồi niên thiếu dù đã lập làm Hồng tử Ngài cũng thường trốn vào núi Yên Tử tập Thiền. Khi lên ngơi Hồng đế, Ngài vẫn giữ mình thanh tịnh, tu tập PHÁP Thiền. Ngài thọ giáo với Tuệ Trung Thượng sĩ. Ngài dành nhiều thời giờ nghiên cứu Kinh điển. Năm 1323, truyền ngơi cho con là Anh Tôn,

sau đó ít Năm Ngài vào tu ở núi Yên Tử.

Trong thời Trần Nhân Tông, quân ta đã chiến thắng quân Mông Cổ xâm lược .cuộc chiến thắng lẫy lừng làm rạng rở non Sông , thế giới khâm phục . Nhờ các đại tướng tài ba như Trần Hưng Đạo , Trần Quốc Toản , Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng , Trần Khánh Dư v.v…

Trần Anh Tôn lại là Học trị của PHÁP Loa Tôn sư , hiểu thông giáo lý cũng dựa vào Phật PHÁP lấy Đức trị dân , dân chúng cũng được thái bình . Nhưng đến đời Minh Tôn về sau , đình thần nhiều người gian nịnh , vua thì nhu nhược ( các vua sau khi lên ngơi chỉ có trên dưới 10 tuổi ) Vận nước đã suy lại thêm các nước ngoài dòm ngó , mưu Đồ xâm lăng . Vị vua cuối cùng của nhà Trần là Trần Thiếu Đế ( lên ngơi lúc 2 tuổi) . Nhà Trần làm vua 12 đời , tổng cộng 175 Năm.

Trần Nhân Tôn xuất gia hiệu là Hương Vân Đại đầu đà , lập trường giảng Pháp đào tạo Tăng sĩ . Môn Đồ của Ngài ( cả tăng sĩ và cư sĩ ) đến hàng vạn . Ngài thường đi khắp nôi để giảng đạo , khuyên dân làm điều thiện . Ngài hấp thụ tư tưởng phóng khống không câu nệ cố chấp của Tuệ Trung Thượng sĩ nên Thiền của Ngài có những nét đặc thù . Chính Ngài mở đầu phái Thiền Trúc Lâm , phái

Thiền thứ 3 của Việt Nam ( lúc Ngài tịch Anh Tôn dâng tôn hiệu : “ ĐẠI THÁNH TRẦN TRIỀU TRÚC LÂM ĐầU ĐÀ TỊNH TUỆ GIÁC HỒNG ĐIỀU NGỰ TỔ PHẬT”). Vị kế truyền là Ngài Pháp Loa , Ngài ngộ đạo sớm , tinh thông kinh điển , Ngài Hương Vân lập Ngài làm giảng sư và kế thế trụ trì Chùa Siêu Loại làm chủ Sơn môn Yên Tử . Sau đó Ngài truyền giới xuất gia cho Tuyên Từ Hồng Thái Hậu và Thiên Trinh Trưởng Công Chúa . Lúc Ngài tịch, Ngài truyền Tâm ấn cho Ngài Huyền Quang Tôn sư : Huyền Quang có soạn 2 quyển : “ Chư Phẩm Kinh” và “Công Văn Lập” . Lúc Ngài tịch nhà Vua ban tư hiệu “Trúc Lâm Đệ Tam Đại Tự PHÁP Huyền Quang Tôn Giả” vì Ngài chính là vị Tổ thứ 3 của Phái Trúc Lâm này. Nhìn chung lại , Phật giáo đời Trần cũng rất thịnh nhưng đến đời Trần Anh Tôn cũng pha lẫn đạo giáo nhiều có lẽ sự pha lẫn bắt đầu từ đời Lý . Chuyện Từ Đạo Hạnh muốn báo thù cho cha nên vào ẩn trong Từ Sơn lấy đạo hiệu là Từ Hạnh , chuyên trì thần chú Đại bi và các PHÁP thuật khác , khi PHÁP thuật đã thông , trở về báo thù cho cha . Câu chuyện này chứng tỏ đạo Phật đã có màu sắc Đạo giáo.

Lại trong Tăng Đồ cuối đời Trần đã nhiều vị tha hóa thiên về cúng bái hôn tu tập . Nhà vua ( đời Trần Thuận Tôn Năm thứ 9 mở kỳ thi sát hạch Tăng chúng tuyển làm các chức coi việc các cung , trông coi các đền và trông coi các chùa , nhiều Tăng sĩ cũng tồi tệ , đi thi để tranh dành chức coi giữ cung vua và các miếu .

Thật là một hiện tượng đánh dấu sự suy Đồi của đạo Phật .

III. ANH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỜI LÝ, TRẦN :

Chúng ta đã thấy Phật giáo thời nhà Đinh bắt đầu thịnh đạt và hưng thịnh nhất vào đời Lý, Trần . Phật giáo đã trở thành Quốc giáo . Nước nhà lúc này cũng là giai đoạn hùng cường nhất , Phật giáo và dân tộc có mối trưởng quan mật thiết , ý hướng xây dựng một nền văn hóa Việt Nam độc lập của các Thiền sư rất rõ rệt.

- Về phương diện Học thuật : có công đào tạo các lớp tri thức không cố chấp , biết dung hợp các ý thức hệ dị biệt của Nho - Lão - Phật .

- Về phương diện văn hóa : dựng lên một thời đại thuần từ, lấy Đức từ bi làm căn bản cho chính trị .

- Về văn Học : các thiền sư là những người đóng góp vào vấn đề sáng tác nhiều nhất trong nước dù phần lớn những sáng tác này chủ đề về Phật giáo.

- Về mỹ thuật các công trình : kiến trúc và điêu khắc Phật giáo (chùa, tháp, chuông , tượng v.v..) là những đóng góp mỹ thuật quan trọng nhất trong thời

đại . Chúng ta đã thấy các Thiền sư mở trường dạy Học không những cho Tăng sĩ mà còn cho Cư sĩ nữa. Vạn Hạnh đã đào tạo cho Lý Công Uẩn . Tri thiền trên núi Cao Dã đã đào tạo nên Tô Hiến Thành và Ngơ Hòa Nghĩa ,nhiều Thiền sư am tường cả Tam giáo (Khuông Việt ,Vạn Hạnh ,Viên Thông v.v…) họ đã dạy cho môn đệ những điều tinh hoa nhất trong khoa Học , xã hội và chính trị của Nho giáo ,

những kiến thức Nho giáo được sử dụng theo tinh thần Phật giáo quả đã đóng góp khá nhiều cho Học thuật và chính trị đời Lý . Nhưng về sau , những nhà Nho thiếu căn bản Phật Học trở nên giáo điều, cố

chấp , chật hẹp , thái độ ấy đã gây ra chia rẽ và tạo nên sự loạn lạc trong nước . Hồng Xuân Hãn đã viết trong tác phẩm Lý Thường Kiệt “đời Lý có thể gọi đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta . Đó chính là ảnh hưởng đạo Phật”.

Tiếc thay cuối thời đại nhà Trần các quan lại trong triều đình chia rẽ, ganh tỵ nhiều kẻ dua nịnh . Nhà Vua thì quá nhỏ tuổi , nhu nhược, không chủ động được .

Nước nhà dần dần đến chổ suy vong . Phật giáo thì cũng pha lẫn Đạo giáo , Tăng sĩ nhiều người suy thối nên cũng không thịnh đạt mà bắt đầu suy Đồi.

IV.- PHẬT GIÁO THỜI NHÀ MINH ĐÔ HỘ ĐẾN TRINH NGUYỄN PHÂN

TRANH :

Đến đời Trần Thiếu Đế thì bị Hồ Quý Ly ép phải nhường ngơi để lập nên triều đại nhà Hồ. Nhưng sau đó nhà Minh đem quân đánh nhà Hồ và đặt ách thống trị Đại Việt. Nhà Minh thực hiện chính sách đô hộ tàn ác và cho tịch thu kinh sách Phật giáo đốt phá chùa chiền (đầu thế kỷ 15).

Mười ba Năm sau Bình Định Vương Lê Lợi (với sự tham mưu của Nguyễn Trãi) đứng lên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh giành lại độc lập và lập nên nhà Hậu Lê.

Trong thời kỳ nhà Minh đô hộ chính sách Đoàng hóa Đại Việt của Tàu, được thi hành triệt để vì lẽ nếu để Đại Việt độc lập văn hóa sẽ Dẫn đến độc lập chính trị. Các quan lại nhà Minh nghiêm khắc áp đặt nền văn hóa Tàu lên Đại Việt. Nho Học đã chiếm địa vị nòng cốt trong văn Học, Phật giáo bị đẩy ra khỏi hệ tư tưởng của vua quan để thay thế hệ tư tưởng Tống Nho, đạo Phật đã suy thối lại càng suy thối hôn. Các nho sĩ thời Hậu Lê đáng lẽ phải nhận rõ âm mưu thâm độc của nhà Minh. Nhưng vì hai thế kỷ vừa không ý thức được về nền văn hóa dân tộc, vừa kỳ thị Phật giáo nên đã phá vở sự dung hợp giữa Nho và Phật đã có từ thời Lý - Trần. Thời Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài đến 45 Năm. Đến Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ ở Tây Sơn (nên gọi là nhà Tây Sơn), đem quân đánh chúa Nguyễn rồi ra Bắc diệt chúa Trịnh. Vua Lê lúc nầy là Lê Chiêu Thống sang cầu viện nhà Thanh bên Tàu. Quân nhà Thanh được cớ giúp vua Lê đem quân sang thôn tính Đại Việt.

Nguyễn Huệ sau khi lên ngơi Hồng Đế lấy hiệu là Bắc Bình Vương, đem quân ra Bắc đánh tan 20 vạn quân Thanh rồi củng cố triều đình, chấm dứt cảnh Nam Bắc phân tranh kéo dài ròng rã 45 Năm.

.Trong thời này giặc dã bên Tàu nổi lên, suốt một đời vua Càn Long không mấy khi được thái bình, nhiều vị cao tăng sang Đại Việt để hòa hoãn. Do đó Phật giáo có cô nguyên phục hồi.. ở Đàng Ngoài có Ngài Chuyết Chuyết sang giảng dạy đạo Phật ở chùa Khán Sơn (Thăng Long) sau đó dời về chùa Phật Tích (Bắc Ninh) . Kinh điển Ngài để lại ở chùa Phật Tích khá nhiều, một số kinh đã được khắc bản đề ấn lốt trong thời ấy. Thiền sư Chuyết Chuyết thuộc thế hệ thứ 34 dòng Lâm Tế, hai vị đệ tử xuất sắc của Ngài là Minh Hành (người gốc Trung Hoa) và Minh Lương là người Đại Việt. Trong thế kỷ 17 có vị cao tăng người Việt là Thiền sư Chân Nguyên đệ tử của Thiền sư Minh Lương, Ngài cùng các đệ tử khôi phục lại Thiền phái Trúc Lâm bằng cách sưu tầm, hiệu đính khắc bản, và lưu hành những tác phẩm Thiền Trúc Lâm. Trong đó vị đệ tử được tiếp nối y bát của truyền thông Trúc Lâm là thiền sư Như

Hiện. Vị đệ tử thứ hai là Thiền sư Như Trừng lập được một thiền phái lấy tên là Liên Tông (nhưng về sau cả hai phái nầy lại Nhập làm một). Nhìn chung vì có ý thức về một nền Phật giáo dân tộc nên các vị Thiền sư đã ra công trùng san những tác phẩm Phật Học Lý Trần : trùng khắc "Thánh Đăng Lục", trước tác "Thiền Tông bản hạnh", trùng san "Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục", "Kế Đăng lục", "Thánh Dăng lục", Thượng sĩ ngữ lục", "Khóa Hư lục", "Tam Tổ Thực Lục", "Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục", Ngoài ra còn có Thiền sư Hương Hải ở lưu vực Sông Xích Đằng tỉnh Hưng Yên ở Đàng trong, ngay sau khi Doãn Quốc Công Nguyễn Hồng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, Ông đã để ý đến việc lập Chùa. Năm 1601 dựng chùa Thiên Mụ ở xã Hà Khê, huyện Hương Trà, dựng lại chùa Sùng Hóa trên nền một ngơi chùa Cổ ở xã Triêm Ân, huyện Phú vang. Năm 1607 lập chùa Kính Thiênở Thuận Trạch,

Quảng Bình. Vào thế kỷ 17 ghi nhận sự có mặt của các Thiền sư Trung Hoa sau đây :

- Thiền sư Viên cảnh và Viên Khoan ở Quảng Trị - Thiền sư Tử Dung (PHÁP tự là Minh Hoằng) khai Sơn chùa ấn Tôn ,Thiền sư Giác Phong khai Sơn chùa Thiên Thọ , Thiền sư Từ Lâm khai Sơn chùa Tù Lâm, Thiền sư Thạch Liêm khai Sơn chùa Thiền Lâm ở Thuận Hóa - Thiền sư PHÁP Bảo khai Sơn chùa Chúc Thánh, Quốc sư Hưng Liên trụ trì chùa Tam Thai ở Quảng Nam - Thiền sư PHÁP Hóa khai

Sơn chùa Thiên ấn ở Quảng Ngãi - Thiền sư Tế Viên khai Sơn chùa Hội Tông tại Phú Yên - Thiền sư Nguyên Thiều khai Sơn chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định, chùa Quốc Ân, Hà Trung ở Thuận Hóa. Một vị cao tăng lúc nầy là Hòa thượng Liễu Quán một thiền sư nổi tiếng của phái Lâm Tế, đã có công lớn trong bước đầu phục hưng Phật giáo ở Đàng Trong.

Vào thế kỷ thứ Mười tám, khi các chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phương Nam thì một số cao tăng cũng theo làn sĩng di cư đến trách tích tại các vùng đất mới. ở Đơng Phố Gia Định có Thiền sư Đạt Bổn từ Quy Nhơn vào lập chùa Thiên trường Năm 1755 đời chúa Nguyễn Phúc Khốt. Chùa Tập Phước cũng tại Gia Định (theo sách "Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên thì có 2 giả thiết về vị khai Sơn : Một là

Thiền sư Viên Quang tu tại chùa Giác lâm, một là Thiền sư Mật Hoằng cả hai đều thuộc phái Nguyên Thiều gốc ở chùa Thập Tháp đời 36 dòng Lâm tế).ở Tây Ninh có Thiền sư Đạo Trung (đệ tử đời thứ tư của môn phái Liễu Quán) khai Sơn chùa Linh Sơn ở núi Điện Bà Năm 1763 và chùa Long Hưng ở Thủ Dầu Một Năm 1794. ở Hà Tiên Thiền sư Hồng Lung người Quy Nhơn dừng chân tại núi Bạch Tháp ở

phía Bắc đỉnh Vân Sơn Ngoài ra thời kỳ này có phái Tào Động được truyền vào Đại Việt, ở Đàng

Ngoài do Thiền sư Thuỷ Nguyệt sang du Học ở Trung Hoa mang về (hiện các chùa Hàm Long, Hòa Giai và Trấn Quốc ở Hà Nội đều thuộc tông phái Tào Đơng), ở Đàng Trong do hai Thiền sư Hưng Liên và Thạch Liêm đưa tới.

Tóm lại đã đành vì Nam Bắc phân tranh đã khiến cho nhiều trai tráng xuất gia để trốn lính, và do đó khiến số tăng sĩ thât Học trở thành đơng đảo. Nhưng qua gần nửa thế kỷ được sự giáo hóa của một số cao tăng đã tạo được một số trung tâm tu Học chân chính đáng kể ./-

(1) trích lược “ việt nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang”

TÀI LIỆU THAM KHảO

- “Việt nam Phật giáo sử lược” của Thích Mật Thể Phật Học viện Trung phần xuất bản Năm

1960 .

- “Việt Nam Phật Giáo Luận” của Nguyễn Lang , nhà xuất

bản Văn Học Hà nội xuất bản 1994..

Luật của Ðoàn

Là Oanh Vũ em phải thuộc lòng, hiểu và thực hành cho đúng ba điều luật.

1. Em Tưởng Nhớ Phật : Phật rất thương yêu em và thương yêu tất cả mọi người, mọi vật. Tưởng nhớ Phật em sẽ được gần Ngài để bắt chước và cố noi theo tánh tốt của Ngài.

2. Em Kính Mến Cha Mẹ Và Thuận Thảo Với Anh Chị Em: Cha mẹ hết lòng nuôi nấng cho em khôn lớn, lo cho em học hành nên người. Em còn phải thuận thảo với anh chị em, vì hàng ngày cùng chung sống với nhau, thương yêu giúp đỡ nhau. Em phải ôn hòa với anh chị, nhường nhịn và rộng rải với các em nhỏ.
3. Em thƣơng Ngƣời và Vật :
Khi chúng ta đau yếu, chúng ta cảm thấy khốn khổ, khi chúng ta đói chúng ta muốn tìm một thức ăn, loài vật cũng thế. vì vậy chúng ta phải yêu thương muôn loài. Chúng ta yêu thuơng mọi người, người khác sẽ thương yêu lại. Em biết thương yêu ngƣời và vật, mới xứng đáng là con ngoan của Phật.

Rules of Oanh Vu

As Oanh Vu you need to memorize, understand and practice the three rules of the Oanh Vu.

1. Always Remember Buddha: Buddha loves everyone of us and all living creatures. In remembering Buddha you will have the feeling that he is always with you and you will follow his step to do good thing in life.

2. Always Obey and Love Your Parents, And Get Along With Your Siblings: Your parents raise and care for you since you were born, teach you right from wrong with the only hope that you become a productive citizen. To express your gratitude for all the things your parents have been doing for you, you need to obey and love your parents. Living in the same family, brothers and sisters have to love and help each other. You have to obey older brothers and sisters and be concessive with the younger members in the family. In doing so, you also show your love for your parents because if siblings don't get along, parents are not happy.

3. Always Love Human Beings And Living Creatures: We suffer when pain is inflicted, we want to eat when we are hungry, animals do the same things. In other words, all beings have feelings. Therefore, we should love each others. If you show your love toward others, they will do the same to you. By expressing your love towards others, you will become Buddha's good disciple.

Subcategories